Tăng cường bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong các giai đoạn tố tụng

 Tăng cường bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong các giai đoạn tố tụng

Bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những nội dung và cũng là mục đích của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chăm lo đến con người, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động Nhà nước là những quan điểm cơ bản được thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong những năm gần đây.

Hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là hoạt động xét xử là một mặt hoạt động của Nhà nước liên quan rất chặt chẽ với quyền tự do, dân chủ của công dân. Hoạt động tố tụng hình sự là nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất, và vì vậy là nơi quyền tự do dân chủ của công dân có nguy cơ dễ bị xâm hại nhất. Thực tiễn tố tụng những năm qua cho thấy rằng cũng còn nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có những vi phạm các quyền công dân , nhất là trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, có nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng… Vì vậy, có thể nói, tăng cường việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự nói chung; trong xét xử vụ án hình sự ,nhất là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói riêng, từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Theo quy định của BLTTHS thì Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Qua nghiên cứu thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, từ góc độ bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân, chúng tôi thấy còn một số điểm hạn chế, bất cập như sau:

– Thứ nhất, theo chúng tôi có tình trạng quá lạm dụng biện pháp tạm giam. Tỷ lệ bị can, bị cáo bị tạm giam chiếm tỷ lệ khá cao. Căn cứ tạm giam chưa được thể hiện cụ thể. Nhìn chung trong quá trình điều tra vụ án, khi đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định tạm giam, đa số các trường hợp trong công văn yêu cầu đều ghi căn cứ chung chung như “để đảm bảo cho công tác điều tra, xử lý”, “thấy rằng cần thiết phải tạm giam bị can, không để bị can trốn”, “không để bị can tiếp tục phạm tội”, mà ít đưa ra được những căn cứ cụ thể. Cũng không loại trừ trường hợp Cơ quan điều tra sử dụng tạm giam như là biện pháp nghiệp vụ để buộc bị can khai nhận tội. Mặc dù Điều 177 BLTTHS quy định sau khi nhận hồ sơ vụ án, Chánh án hoặc Phó chánh án quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam, nhưng trên thực tế, sau khi thụ lý hồ sơ thông thường Toà án tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã áp dụng; rất ít trường hợp Toà án thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam đã áp dụng trước đó, có thể để cho thuận tiện tiến hành tố tụng, hoặc để đảm bảo thuận lợi cho thi hành án phạt tù sau này, còn nếu không bị phạt tù thì chờ tuyên án trả tự cho bị cáo luôn.

Việc quá lạm dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhiều khi gây nên sức ép tâm lý không đáng có đối với việc xét xử của Toà án; nhất là sau khi có Nghị quyết số: 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường thiệt hại cho những người bị oan do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự; chẳng hạn: Tình trạng tạm giam là một trong những nguyên nhân dẫn đến Toà án ngại tuyên vô tội khi xét xử mặc dù có đủ căn cứ để làm điều đó. Do sợ bị đánh giá là quyết định bắt giam oan, sai cho nên Toà án thường không dám tuyên bị cáo vô tội, mà thường trả hồ sơ để điều tra bổ sung để Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đình chỉ -Tạm giam nhiều cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ người bị kết án bị phạt tù giam ở nước ta quá cao. Toà án rất hạn chế cho bị cáo bị tạm giam hưởng án treo hoặc áp dụng các hình phạt khác không phải tù như cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo… mặc dù có đủ điều kiện theo quy định của BLHS; trong những trường hợp này Toà án thường xử phạt tù với thời hạn bằng thời hạn bị cáo đã bị tạm giam. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người bị kết án. Việc quá lạm dụng biện pháp tạm giam cũng thể hiện trong trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 228 BLTTHS bắt giam bị cáo ngay sau khi tuyên án. Nhiều trường hợp Hội đồng xét xử quyết định bắt bị cáo tại ngoại bị xử phạt tù ngay sau khi tuyên án chỉ với nhận định chung chung kiểu như “xét thấy bị cáo có thể trốn”, “xét thấy để đảm bảo thi hành án”… mà không có căn cứ cụ thể;

– Thứ hai, BLTTHS quy định chưa rõ ràng, nên các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Toà án nói riêng đang lúng túng trong việc áp dụng thời hạn tạm giam trong trường hợp đồng phạm mà các bị can, bị cáo phạm tội thuộc các loại khác nhau, cho nên thời hạn tố tụng cũng được quy định khác nhau. Thực tiễn hiện nay đi theo hướng thời hạn tố tụng nói chung, tạm giam nói riêng được thực hiện theo tội nặng nhất trong vụ án đó. Ví dụ: hai bị can A và B đồng phạm cố ý gây thương tích cho người khác với mức độ thương tật là 45%, B phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm; như vậy A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 104 BLHS (tội nghiêm trọng), B bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 104 BLHS (tội rất nghiêm trọng). Trong trường hợp này, thường thì cơ quan điều tra căn cứ vào Điều 120 BLTTHS, Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 176, Điều 177 BLTTHS để xác định thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với cả hai bị can trên cơ sở tội mà B thực hiện (tức là tội rất nghiêm trọng). Như vậy, A chỉ phạm tội nghiêm trọng, nhưng lại phải bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng về tội rất nghiêm trọng. Điều này, theo chúng tôi là không hợp lý từ góc độ pháp chế cũng như bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân. Chúng tôi rất nhất trí với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là trong trường hợp này “thời hạn tạm giam đối với từng bị can không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm nặng nhất mà bị can đó bị truy tố”;

– Thứ ba, các biện pháp ngăn chặn không giam giữ rất ít được áp dụng trên thực tế. Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm hầu như không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người Việt Nam. Trong điều kiện tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay, khi một người vì lý do nào đó mà bị bắt, tạm giữ, tạm giam thì sẽ ảnh hưởng lớn đến uy tín, danh dự, và vì vậy rất khó để có thể đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, hoạt động xã hội. Vì vậy, Theo chúng tôi việc quá lạm dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, giam giữ, tạm giam mà coi nhẹ các biện pháp ngăn chặn khác sẽ gây ra không chỉ hậu quả pháp lý, mà cả hậu quả xã hội không có lợi; ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đến sự phát triển, tiến bộ của con người;

– Thứ tư, hầu như 100% bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Bởi vì BLTTHS không quy định cụ thể các điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm về nội dung, cho nên đa số những người tiến hành tố tụng, trong đó có Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán quan niệm rằng đã là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự thì phải bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nào đó. Vì vậy, khi khởi tố, bị can luôn bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án không huỷ bỏ, mà chỉ giữ nguyên hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng bằng biện pháp ngăn chặn khác. Nhận thức như vậy là không đúng với tinh thần của BLTTHS. Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003 cũng đã khẳng định rằng Chánh án hoặc Phó Chánh án có thể quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam, nhưng xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam người đó và cũng không cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Như vậy, không nhất thiết đã là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự thì phải áp dụng biện pháp ngăn chặn.

- Một số giải pháp tăng cường việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ở giai đọan xét xử

- Hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự Qua phân tích những vấn đề lý luận và nghiên cứu thực tiễn xét xử của các Toà án, chúng tôi thấy rằng việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự nói chung còn có những hạn chế là do những bất cập trong các quy định của BLTTHS và hướng dẫn áp dụng thống nhất BLTTHS. Vì vậy, việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS có liên quan và tăng cường hướng dẫn áp dụng các quy định của BLTTHS trong xét xử vụ án hình sự là một trong những giải pháp quan trọng bảo đảm cho việc xét xử của Toà án chính xác, khách quan, là những điều kiện quan trọng để thực hiện việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân.

- Hoàn thiện các quy định của BLTTHS:

+ Sửa đổi các Điều 38, Điều 39, Điều 177 BLTTHS theo hướng giao cho Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thẩm quyền quyết định đối với biện pháp ngăn chặn tạm giam. Là người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán là người hiểu rõ hơn ai hết trường hợp nào cần áp dụng, thay đổi hay huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo. Trên thực tế, theo quy định của BLTTHS hiện nay thì việc quyết định áp dụng, huỷ bỏ, thay đổi biện pháp tạm giam của Chánh án, Phó Chánh án cũng do Thẩm phán đề xuất. Mặt khác, giao cho Thẩm phán thẩm quyền này sẽ nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong chuẩn bị xét xử; tránh được tình trạng dựa dẫm, đùn đẩy nhau trong việc quyết định áp dụng, huỷ bỏ hay thay đổi biện pháp này và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Với các điều kiện bổ nhiệm được tiêu chuẩn hoá hiện nay (có trình độ đại học luật, được đào tạo nghiệp vụ xét xử, có kinh nghiệm lâu năm trong công tác pháp luật, đáp ứng các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức.), Thẩm phán Toà án hoàn toàn có đủ điều kiện để giao cho thẩm quyền quyết định biện pháp ngăn chặn tạm giam.

+ Sửa đổi khoản 1 Điều 88 BLTTHS về căn cứ áp dụng tạm giam theo hướng tạm giam chỉ có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo nếu có căn cứ cụ thể khẳng định rằng họ có thể tiếp tục phạm tội, có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Như vậy, để áp dụng biện pháp tạm giam, người có thẩm quyền phải có căn cứ cụ thể khẳng định bị can, bị cáo có thể tiếp tục phạm tội, có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Với sửa đổi như vậy, quy định của Điều 88 BLTTHS mới phù hợp với Điều 79 BLTTHS, tránh được sự tuỳ tiện trong áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự nước ta;

+ Sửa đổi đoạn 2 khoản 2 Điều 94 BLTTHS như sau: “Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế trong giai đoạn điều tra, truy tố phải do Viện kiểm sát quyết định”. Bởi vì, theo quy định của Điều 177 BLTTHS, sau khi nhận hồ sơ vụ án, Toà án hoàn toàn có quyền quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, trong đó có các biện pháp ngăn chặn do Cơ quan điều tra áp dụng. Quy định của khoản 2 Điều 94 BLTTHS là trái với bản chất sự việc và mâu thuẫn với Điều 177 BLTTHS;

+ Nghiên cứu sửa đổi khoản 1 Điều 303 BLTTHS về căn cứ bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo hướng thu hẹp phạm vi áp dụng các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc này đối với người chưa thành niên phạm tội, đáp ứng chính sách nhân đạo của Nhà nước ta và nguyên tắc coi trọng giáo dục, phòng ngừa đối với người chưa thành niên phạm tội. Nghiên cứu Điều 12 BLHS và Điều 303 BLTTHS, chúng tôi thấy căn cứ áp dụng bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội được quy định tại khoản 1 không có gì khác với người đã thành niên; bởi vì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã phạm tội là có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong mọi trường hợp mà không có hạn chế gì. Trong khi đó, người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, nhưng theo khoản 2 Điều 303 BLTTHS họ chỉ có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

- Tăng cường hướng dẫn áp dụng BLTTHS: Để bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, cùng với việc hoàn thiện BLTTHS để sửa đổi những quy định còn bất cập, bổ sung những quy định mới nhằm đảm bảo cho hoạt động tố tụng được chính xác, khách quan và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cần phải tăng cường việc hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLTTHS của các cơ quan có thẩm quyền. Theo chúng tôi, trước mắt các cơ quan có thẩm quyền cần tập trung hướng dẫn một số vấn đề sau đây:

+ Hướng dẫn về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không giam giữ như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nhaốm giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Toà án nói riêng tăng cường áp dụng các biện pháp này. Hiện nay trong thực tiễn có quan điểm sai lầm cho rằng đã là bị can, bị cáo trong một vụ án thì phải áp dụng biện pháp ngăn chặn; quan niệm như vậy có đúng không cũng cần phải thống nhất. Cần hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 93 BLTTHS về mức tiền phải đặt, thẩm quyền và thủ tục sung quỹ Nhà nước số tiền đặt để các Toà án có thể tăng cường áp dụng biện pháp ngăn chặn này v.v…;

+ Nâng cao năng lực, trình độ, nhận thức của Thẩm phánm Hội thẩm. Dù pháp luật có quy định cụ thể đến đâu thì hiệu quả của nó phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm, nhận thức của người áp dụng pháp luật trong từng trường hợp cụ thể. Đặc biệt, trong BLTTHS nhiều quy định được áp dụng hay không lại tuỳ thuộc vào đánh giá chủ quan của người có thẩm quyền. Ví dụ: căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam theo điểm b khoản 1 Điều 88, khoản 2 Điều 228 BLTTHS phụ thuộc vào đánh giá chủ quan (tuy nhiên trên cơ sở các tình tiết khách quan) về khả năng bỏ trốn, khả năng tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo. Việc áp dụng các quy định pháp luật mang tính cưỡng chế cũng phụ thuộc nhiều vào quan điểm, cách nhìn nhận của người có thẩm quyền áp dụng. Ví dụ: theo điểm a khoản 1 Điều 88 BLTTHS thì người nào phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng đều có căn cứ để tạm giam; nhưng việc có áp dụng bieọn pháp tạm giam hay không trong từng trường hợp cụ thể lại phụ thuộc vào quan điểm (nghiêm khắc hay khoan hồng) của người có thẩm quyền. Vì vậy, có thể nói tăng cường nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán, Hội thẩm là giải pháp quan trọng đảm bảo cho hoạt động xét xử của Toà án đáp ứng yêu cầu tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân. Theo chúng tôi, để thực hiện giải pháp này cần tiến hành các biện pháp sau đây:

+ Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm các Toà án; - Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, chính sách pháp luật, nhất là chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, quan điểm bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cho cán bộ Toà án các cấp;

+ Hoàn thiện chế độ trách nhiệm Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước công dân là giải pháp quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân. Nhà nước không chỉ có trách nhiệm trong việc ban hành pháp luật và duy trì để pháp luật về quyền tự do dân chủ của công dân được thực hiện trên thực tế, mà còn xử lý các vi phạm pháp luật bằng các chế độ trách nhiệm khác nhau. Vì vậy, việc hoàn thiện chế độ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng cũng là giải pháp cần thiết để bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự nói chung, trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói tiêng.

+ Trước hết cần hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân trong hoạt động tư pháp. Theo chúng tôi, cần bổ sung vào Chương XXII BLHS một điều luật quy định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp; bởi vì, trong BLHS mới chỉ có tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 301); còn nếu áp dụng Điều 285 BLHS để xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm đó thì không thật hợp lý. 

+ Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan, sai. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành nghị quyết về bồi thường thiệt hại không chỉ trong trường hợp oan, mà cả trong trường hợp sai. Bởi vì, trong thực tế có trường hợp tiến hành tố tụng sai có thể gây ra thiệt hại lớn hơn, gây hậu quả nghiêm trọng hơn trường hợp bị oan. Hơn nữa, Điều 30 BLTTHS quy định bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự; 

+ Hoàn thiện chế độ kỷ luật đối với hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự. Những hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự thì tuỳ tính chất, mức độ phải được xử lý kỷ luật một cách hợp lý; phải được đánh giá để bãi miễn hoặc không tái bổ nhiệm các chức danh chuyên môn. Đặc biệt là những người không đủ năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tư pháp, đã có những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do dân chủ của công dân thì không nên giao tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tố tụng nặng nề đặt ra.

Theo luatviet.vn

================================================
Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Tư vấn Luật Bắc Việt Luật để được hướng dẫn chi tiết.
Hoặc yêu cầu dịch vụ tại đây.
----------------------------
Công ty Luật Bắc Việt Luật
Số 39b, lô 6, Trung Yên 14, Khu đô thị mới Trung Yên - Đống Đa
Tel: 04.22155966 - 04. 22158486
Hotline: 0938-188-889 – 0988-631168 - 01687696666
www.bacvietluat.vn - www.tuvanluat.net - www.dangkykinhdoanh.net
  • TAG :