Home » NGHIÊN CỨU LUẬT » Tình huống dân sự » BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trong hệ thống pháp luật tố tụng hiện nay ở nước ta, chế định hội thẩm nhân dân là một trong những chế định bắt buộc, có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm trong hoạt động tư pháp. Bởi vì, hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của Hội đồng xét xử là các hội thẩm nhân dân. Cùng với số lượng đó là tính quyết định của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử đối với bản án sơ thẩm.

Thực tế hiệu quả hoạt động của các hội thẩm ở nước ta hiện nay là chưa đạt yêu cầu về mặt pháp lý cũng như về mặt xã hội. Điều này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là 2 vấn đề lớn đó là: nhận thức về vai trò của hội thẩm trong Hội đồng xét xử các vụ án sơ thẩm và trách nhiệm của hội thẩm trong các phiên toà sơ thẩm.

1. Nhận thức về vai trò của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử

1.1. Một số vấn đề lý luận về sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong phiên toà xét xử sơ thẩm

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 [2], Bộ luật tố Hình sự [3] và Bộ luật Tố tụng Dân sự[4], việc tham gia của hội thẩm nhân dân là một trong những yêu cầu bắt buộc trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án. Từ quy định như vậy, có thể thấy vai trò của hội thẩm nhân dân là hết sức quan trọng trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án ở nước ta.

Và để đi tìm lời giải cho câu hỏi là: Vì sao phải sử dụng tới 2 hội thẩm nhân dân mà chỉ cần 1 thẩm phán trong phiên toà sơ thẩm(?), tác giả đã tìm hiểu và so sánh chế định này trong hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau và thấy rằng việc đưa hội thẩm nhân dân (có nơi tổ chức theo mô hình bồi thẩm đoàn) vào Hội đồng xét xử sơ thẩm chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử. Họ lập luận rằng, pháp luật chỉ là những khuôn mẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng thuận theo tỷ lệ mà xã hội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên pháp luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp. Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị áp dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội và có thể thay thế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày. Do đó, cần có những tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính quyết định đối với một quan hệ xã hội nào đó.

Ở nước ta, đã có nhiều cách giải thích khác nhau về sự ra đời của chế định hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử. Có ý kiến cho rằng, với sự giao thoa và tiếp nhận văn hoá pháp lý Trung Quốc thì các tư tưởng về pháp luật của nho giáo Trung Quốc ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa pháp lý Việt Nam. Do đó, các chế định pháp luật của nước ta cũng mang đậm dấu ấn của tư tưởng nho giáo đó là tính trọng tình: “Trăm cái lý không bằng tí cái tình”… Cho nên, pháp luật chưa phải là quy tắc cao nhất để phán xét đối với hành vi của xã hội. Vì vậy, cần phải có tiếng nói từ phía người dân, từ phía xã hội thì mới coi đó là các phán xét “thấu tình, đạt lý” và những người góp phần mang lại tiếng nói đó chính là các hội thẩm nhân dân được đề cử.

Hay cũng có cách lý giải rằng, trong một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân dân, vì nhân dân thì việc quy định về số lượng của hội thẩm nhân dân trong thành phần Hội đồng xét xử cũng là thể hiện tính nhân dân của Nhà nước pháp quyền đó…

Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh Nhà nước pháp quyền thì các cách lý giải trên đều có vẻ là chưa thoả đáng. Bởi lẽ, vấn đề mấu chốt của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật chỉ được thượng tôn khi mà mọi quy định của pháp luật phải được nghiêm chỉnh tuân thủ một cách triệt để, việc này đồng nghĩa với việc Nhà nước pháp quyền không có đất cho “tí cái tình” (tí cái tình có thể làm thay đổi bản chất vụ án) trong các phán xét của toà án, hay việc đảm bảo tuân thủ triệt để pháp luật cũng không còn chỗ cho những phán xét nhiều tính “nhân dân” nhưng thiếu tính pháp lý trong đó.

Bên cạnh đó, từ thực tiễn chúng ta thấy, nguồn của các hội thẩm nhân dân ở nước ta hiện nay thường là các cán bộ, công, viên chức của các cơ quan nhà nước hoặc đương chức hoặc đã về hưu, do Mặt trận Tổ quốc giới thiệu nên có lẽ tính nhân dân trong đó cũng không quá nhiều.

Vậy vấn đề đặt ra đối với các hội thẩm nhân dân là họ giữ vai trò như thế nào trong Hội đồng xét xử ở nước ta hiện nay mới được coi là đúng? Theo tác giả, nếu việc xét xử chỉ thuần tuý là việc áp dụng một cách cơ học các quy phạm pháp luật vào vụ án thì có lẽ chúng ta nên sử dụng một Hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán chứ không nên sử dụng Hội đồng xét xử gồm 2 hội thẩm nhân dân và 1 thẩm phán. Vì rõ ràng những Thẩm phán được đào tạo về kiến thức pháp luật một cách thành thạo hơn và chuyên nghiệp hơn sẽ là những người áp dụng pháp luật tốt hơn.

Xét ở khía cạnh xã hội và khía cạnh lập pháp trong Nhà nước pháp quyền, chúng ta cần lưu ý đến hai khía cạnh khá quan trọng trong các lý thuyết cũng như thực tiễn pháp lý. Đó là, tính “trễ” của các quy phạm pháp luật so với thực tiễn. Nghĩa là, các quy phạm pháp luật chỉ được xây dựng trên cơ sở các vấn đề đã có trên thực tiễn một hoặc nhiều lần hay bằng cách dự liệu nó sẽ xảy ra trên thực tiễn. Thứ hai, ngoài các quy phạm pháp luật thực định pháp luật còn chứa đựng trong đó một giá trị lớn hơn đó là tinh thần pháp luật. Tinh thần pháp luật có thể hiểu một cách đơn giản là cái đích mà pháp luật mong muốn hướng đến. Từ các khía cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định về hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền.

1.2. Nên hiểu thế nào cho đúng về vai trò của các hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử?

Khi xem xét về quy trình bổ nhiệm hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ hiện nay của chúng ta, tác giả thấy rằng đây là một trong những quy định khá bất cập và đã lái ý nghĩa của hội thẩm nhân dân sang một hướng khác chứ không còn mang nhiều ý nghĩa về mặt xã hội của chế định này. Vì ý nghĩa mà các hội thẩm nhân dân đem lại trong Hội đồng xét xử phải là sự đồng cảm, những kiến thức, kinh nghiệm sống thực tiễn mà trong cùng hoàn cảnh sống hoặc rất gần hoàn cảnh sống đối với các bị cáo, nguyên đơn, bị đơn trong các vụ án được đem ra xét xử chứ không phải là những người được cơ quan công quyền tin cậy.

Vì các vụ án trong xã hội xảy ra muôn màu muôn vẻ, các vấn đề nảy sinh ở nhiều lĩnh vực khác nhau và chứa đựng yếu tố bất ngờ do đó không thể lường trước được đâu là lĩnh vực có thể xảy ra tình huống tranh chấp hay phạm tội. Các hội thẩm nhân dân đã được bổ nhiệm trước không phải lúc nào cũng có thể đưa ra được một nhận xét đúng đắn đối với tình tiết của vụ án đó. Ví dụ: Trong thao tác của các công nhân nổ mìn khai thác đá không may gây ra chết người. Các hội thẩm nhân dân được bổ nhiệm trước đó từ các ngành nghề khác như sư phạm, bác sỹ…, không phải là người làm trong lĩnh vực nổ mìn khai thác đá liệu có biết được bị cáo đã thực hiện sai quy trình kỹ thuật hay không để đưa ra nhận xét. Hay một bác sỹ theo chỉ định được phép sử dụng chất moocphin để cấp cứu bệnh nhân nhưng nạn nhân bị chết, những thành viên hội thẩm nhân dân không thuộc ngành nghề có thể đưa ra kết luận rằng anh ta đã làm như thế là không đúng với nghiệp vụ và lương tâm hay không? Hay đối với tranh chấp thương mại: Trong các điều kiện cá biệt, các giao dịch thương mại trên một địa bàn hẹp thường áp dụng các tập quán giao dịch bất thành văn, nếu các Hội thẩm không phải là những người ở địa bàn đó, không làm trong cùng lĩnh vực, ngành nghề đó thì liệu có thể đưa ra những giải đáp khách quan không?

Vậy nên hiểu thế nào cho đúng về vai trò của hội thẩm nhân dân trong các vụ án?

Đối với các vụ án hình sự: Cần phải tách quy trình tham gia của hội thẩm nhân dân đối với từng công đoạn của quá trình xét xử. Ví dụ, trong quá trình nghị án, thẩm phán chỉ nên lấy ý kiến của các hội thẩm nhân dân để thẩm định rằng: Cáo trạng của viện kiểm sát đưa ra có khách quan theo niềm tin nội tâm của hội thẩm nhân dân và so với những gì mà hội thẩm nhân dân biết được hay không? Hành vi mà bị cáo đã thực hiện trước đó có đáng bị coi là có tội hay không? Dựa trên nghề nghiệp, kinh nghiệm sống, môi trường mà hội thẩm nhân dân đang sống rất giống hoặc rất gần bị cáo…, thì hội thẩm nhân dân đưa ra kết luận là hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm hay không nguy hiểm đối với cộng đồng, nếu các hội thẩm nhân dân cho rằng hành vi đó nguy hiểm đối với cộng đồng thì mới yêu cầu thẩm phán kết tội bị cáo, còn việc kết tội gì thì thẩm phán cần viện dẫn các điều luật cụ thể để áp dụng và các hội thẩm nhân dân chỉ nên đánh giá và xem xét các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ đối với người phạm tội thông qua niềm tin nội tâm của hội thẩm, các kiến thức xã hội mà hội thẩm nhân dân có được. Ngược lại khi thảo luận để nghị án, các hội thẩm nhân dân cho rằng các hành vi như vậy là bình thường và không bị coi là nguy hiểm cho xã hội trong môi trường bị cáo đang sống thì hội thẩm nhân dân có quyền đề nghị thẩm phán trả tự do và tuyên vô tội cho bị cáo, đồng thời phản đối các phán quyết buộc tội của thẩm phán nếu thẩm phán vẫn buộc tội đối với bị cáo thì hội thẩm nhân dân có quyền bảo lưu ý kiến của mình trong hồ sơ vụ án.

Đối với các vụ án dân sự: Những người được chỉ định là hội thẩm nhân dân trong các vụ án dân sự nên được coi là những người hiểu biết sâu về những đối tượng mà các bên tranh chấp. Chẳng hạn, nếu giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực đất đai thì hội thẩm nhân dân có thể là những người hiểu biết về nguồn gốc, xuất xứ quyền sử dụng của mảnh đất đó. Hay tranh chấp hợp đồng thuê tàu thì hội thẩm nhân dân phải là những người am hiểu về thực tiễn các hoạt động đó… Và với tư cách là thành viên của Hội đồng xét xử thì hội thẩm nhân dân sẽ trình bày ý kiến của mình trước thẩm phán trong khi nghị án, việc áp dụng luật để ra phán quyết thì hội thẩm nhân dân nhường lại quyền đó cho thẩm phán quyết định. Việc không đồng tình với phán quyết của thẩm phán, hội thẩm nhân dân có quyền bảo lưu các ý kiến của mình trong hồ sơ vụ án.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với chế định hội thẩm nhân dân ở nước ta hiện nay

2.1. Về trách nhiệm của hội thẩm nhân dân

Theo Quy chế về tổ chức và hoạt động hội thẩm toà án nhân dân[5], mặc dù có quy định trách nhiệm của hội thẩm nhân dân (Điều 11), nhưng những quy định như vậy thực chất là hình thức và thiếu thực tiễn.

Như đã trình bày trên, hình thức cao nhất trong việc truy cứu trách nhiệm của hội thẩm nhân dân mặc dù là truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng quy định này hoàn toàn thiếu các căn cứ pháp lý. Cụ thể là: Mục đích và yêu cầu đối với hội thẩm nhân dân như quy định pháp luật hiện nay, việc đòi hỏi trình độ của họ giống như thẩm phán và áp dụng đúng pháp luật là thiếu cơ sở. Vì yêu cầu đối với hội thẩm nhân dân là chỉ hiểu pháp luật chứ không phải chuyên gia về pháp luật trong vụ án mà họ tham gia xét xử.

Ở khía cạnh thực tiễn, các nhà làm luật đã nhầm lẫn vai trò xét xử của thẩm phán và vai trò nhận định xã hội của các hội thẩm nhân dân đối với vụ án, do đó việc yêu cầu hội thẩm nhân dân xét xử vụ án là hoàn toàn thiếu cơ sở thực tiễn, vì họ không được đào tạo qua lớp các chức danh tư pháp và đại học luật để có thể biết được các kỹ năng áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử.

2.2. Hệ lụy xã hội khi áp dụng không đúng tinh thần của chế định hội thẩm nhân dân vào quá trình xét xử

Từ cách thức lựa chọn hội thẩm nhân dân hiện nay ở nước ta, chúng ta thấy hầu hết nguồn của hội thẩm nhân dân là các công chức, viên chức nhà nước kiêm nhiệm hoặc đã nghỉ hưu. Động lực để họ tham gia vào vụ án là không được cao vì lợi ích của họ trong các vụ án cũng chẳng có nhiều. Bởi:

Thứ nhất, về thu nhập, đây không phải là nguồn thu nhập có thể nuôi sống gia đình và bản thân.

Thứ hai, về trách nhiệm công vụ, đây cũng không phải là nơi họ sẽ bị kỷ luật lao động như thăng, giáng cấp, nâng lương, trừ lương, có chăng chỉ là có được tham gia ở nhiệm kỳ tiếp theo hay không, hay có được thường xuyên tham gia xét xử hay không mà thôi.

Thứ ba, về trách nhiệm xã hội, việc đồng cảm về mặt xã hội đối với bị cáo hay các nguyên đơn, bị đơn trong vụ án cũng không được kỳ vọng nhiều vì những hội thẩm nhân dân được bầu theo hình thức này không có quá nhiều sự đồng cảm về suy nghĩ, môi trường sống, hoàn cảnh sống…, nên dường như họ đang ở bên ngoài hoàn cảnh của các đương sự. Và trong một xã hội trọng danh như nước ta hiện nay thì có vẻ việc có được thẩm quyền phán xét sẽ đưa nhiều hội thẩm nhân dân được bổ nhiệm kiểu này lên một tầm cao hơn trong xã hội chứ không có vẻ là làm cho họ đồng cảm và có trách nhiệm về xã hội đối với các đương sự trong vụ án.

Từ những vấn đề trên có thể thấy, chính sự thiếu thực tiễn trong quy định về chế định hội thẩm nhân dân nên hội thẩm nhân dân là đối tượng có thể dễ bị các đối tượng tác động trong các vụ án sơ thẩm. Dẫn đến việc thiếu tin tưởng vào hội thẩm nhân dân nói riêng và Hội đồng xét xử sơ thẩm nói chung. Thực tế là hiện nay đa số các bản án sơ thẩm đều bị kháng cáo phúc thẩm. Điều này dẫn đến những lãng phí vô cùng to lớn về thời gian và tiền bạc của xã hội.

Bên cạnh đó, việc quy định thiếu thực tiễn về chế định hội thẩm nhân dân đã làm cho nhiều hội thẩm nhân dân trở thành những người thừa hành của Thẩm phán. Do khi tranh luận để nghị án, hội thẩm nhân dân thường là người yếu thế hơn thẩm phán trong việc xác định pháp luật áp dụng nên họ sẽ để các thẩm phán tự dẫn chiếu quy phạm và luật để áp dụng chứ chẳng dại gì tham gia vào đó.

Chính vì những lý do trên, việc xác định cho đúng vai trò và thành phần của các hội thẩm nhân dân nên được các nhà làm luật quy định làm sao cho sát đòi hỏi của thực tế tránh những quy định mang tính hình thức và những lãng phí về mặt xã hội.

3. Kết luận

Trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, một trong những yêu cầu trọng tâm của tiến trình cải cách tư pháp chính là làm cho vai trò của toà án ngày càng độc lập hơn đối với các cơ quan quyền lực khác. Việc độc lập của toà án không chỉ đòi hỏi nâng cao năng lực xét xử của các thẩm phán, mà các toà án muốn có được vị thế độc lập phải có những cơ chế hữu hiệu trong tổ chức thực hiện quyền lực mới đảm bảo được sự độc lập của mình.

Ngoài những yêu cầu thay đổi tố tụng xét hỏi bằng tố tụng tranh tụng thì một đòi hỏi không kém phần quan trọng đó là cũng phải nhận thức và quy định lại chế định về hội thẩm nhân dân, nghĩa là hoàn thiện chế định này theo nghĩa đây là một chế định tham gia của xã hội vào quá trình xét xử của tòa án. Nghĩa là phân định rõ các giai đoạn tham gia của hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử vụ án như trình bày ở trên. Đồng thời, yêu cầu các thẩm phán phải tự chịu trách nhiệm cá nhân về các phán quyết của mình. Các ý kiến của hội thẩm nhân dân thực chất là các ý kiến xã hội và họ chỉ có quyền đưa ra ý kiến chứ không có quyền đưa ra phán quyết và họ có quyền bảo lưu ý kiến của mình trong hồ sơ vụ án, tránh cơ chế quyết định tập thể và không ai phải chịu trách nhiệm về các phán quyết hội đồng đó.

[1] Bài viết đã được đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 năm 2010 (trang 27).

[2] Điều 129 Hiến pháp 1992 quy định về việc xét xử có sự tham gia của hội thẩm nhân dân.

[3] Điều 185 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 quy định về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án sơ thẩm hình sự.

[4] Điều 52 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 quy định về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự bắt buộc phải có sự tham gia của 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân.

[5] Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQLT/TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05/12/2005 của Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Nội vụ – Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

SOURCE: TÁC GIẢ CUNG CẤP

Tags:

 
 

2 Comments

  1. Thuy Ngan says:

    Kinh chao Luật sư!
    Xin ông vui lòng tư vấn giúp gia đình tôi vấn đề thừa kế di sản do ông nội tôi để lại nhưng không có di chúc như sau:
    Ông bà nội tôi trước kia không sinh được con, năm 1954 có xin Ba tôi về nuôi và năm 1959 xin thêm cô tôi, cả 2 đều được pháp luật thừ nhận là con nuôi hợp pháp.
    Năm 1974 Ba tôi lập gia đình, vẫn sống chung với ông bà nội. Năm 1980 cô tôi cũng lấy chồng, khi ấy ông nội tôi có cắt cho 4500m2 đất nông nghiệp để cô tôi ra riêng đồng thời cũng cắt hộ khẩu từ đó.
    Năm 1991, do ngôi nhà của ông bà nội xuống cấp nên sau nhiều năm lao động ba mẹ tôi đã xây dựng lại ngôi nhà mới trên nền ngôi nhà cũ trên phần đất do ông nội đứng chủ quyền (vì ở nông thôn nên chỉ có chủ quyền đất mà không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà). Ba mẹ tôi sống, chăm sóc, phụng dưỡng, thờ cúng tổ tiên trên ngôi nhà ấy; đến năm 2009 ông bà nội tôi lần lượt qua đời nhưng không để lại di chúc (khi còn sống ông nội có tâm nguyện là để lại toàn bộ tài sản cho ba mẹ tôi vì cô tôi đã có phần rồi nhưng không có giấy tờ chứng minh)
    - Bất ngờ tháng 4/2012 cô tôi viết đơn yêu cầu phân chia di sản thừ kế gởi UBND xã, trong đơn kê khai toàn bộ di sản ông nội tôi để lại như sau:
    “Cha mẹ tôi có tạo lập được tài sản chung tổng cộng 14000m2 đất vườn và một ngôi nhà toạ lạc tại 3 nơi ở như sau: – Thửa đất vườn thứ 1, có diện tích khoảng 4000m2 và 1 ngôi nhà tường lợp ngói toạ lạc tại ấp Phu Thuan, LK; -Thửa thứ 2 có diện tích khoảng 6000m2 đất toạ lạc tại ấp My Thanh A, LT; – Thửa thứ 3, có diện tích khoảng 4000m2 toạ lạc tại ấp 1, xã LT” cô tôi yêu cầu chia 7000m2 đất và 1 nửa ngôi nhà.
    - Ngày 20/4/2012 UBND xã có mời gia đình tôi cùng cô tôi ra hoà giải. Hai bên ý kiến như sau:
    + Cô tôi ý kiến “tôi yêu cầu anh tôi cho tôi 2000m2 đất”
    + Ba tôi ý kiến “tôi đồng ý cho em tôi 2000m2 đất”
    Hai bên tự nguyện thoả thuận với nhau như nội dung nêu trên và cam kết sẽ thực hiện đúng như thoả thuận này và không có khiếu nại hay tranh chấp gì về sau. Cô tôi tự nguyện rút đơn yêu cầu.
    - Ngày 20/6/2012 Cô tôi và ba tôi đến trụ sở phòng công chức tự nguyện lập văn bản thoả thuận phân chia di sản theo tinh thần nội dung của biên bản hoà giải của xã.
    - Sau khi có văn bản phân chia di sản thừa kế gia ba tôi đã chuyển xog 2 thửa đất: Thửa đất vườn, có diện tích khoảng 4000m2 và 1 ngôi nhà tường lợp ngói toạ lạc tại ấp Phu Thuan, LK;Thửa vườn có diện tích khoảng 6000m2 đất toạ lạc tại ấp My Thanh A, LT sang Ba tôi đứng chủ quyền đồng thời làm luôn cả giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.
    - Vấn đề phát sinh là thửa đất cô tôi và ba tôi đồng nhận thừa kế có diện tích khoảng 4000m2 toạ lạc tại ấp 1, xã LT theo như văn bản phân chia di sản thừa kế, cô tôi đồng ý nhận 2000m2 và ba tôi 2000m2, cụ thể:
    Thực tế thửa 4000m2 đang đề cập có diện tích đúng là 5396m2, gồm 2 thửa 2851 có diện tích 892m2 và thửa 2906 có diện tích 4504m2 (theo giấy chủ quyền mà ông nội tôi đứng). Do tài liệu 301 đo sau này có sự tách và gộp thửa theo hiện trạng sử dụng có sự nhầm lẫn, sự nhầm lẫn này đã dẫn đến vấn đề tranh chấp tiếp theo như sau: Trước tiên, tôi xin đề cập đến 4500m2 đất mà ông nội tôi đã cho cô tôi sau khi lấy chồng, quá trình làm thủ tục giấy tờ cô tôi chỉ chuyển quyền sử dụng được 3500m2, phần còn lại ông nội tôi vẫn còn đứng chủ quyền cụ thể 1000m2 đất này là thửa 2851 có diện tích 892m2 tôi đề cập ở trên, thửa còn lại là 2906 theo 301 được tách thành 2 thửa 100 và 101, cô tôi nhận thửa 101 có diện tích 2114,5m2, ba tôi nhận thửa 100 có diện tích 2158m2.
    Sai sót này xuất phát điểm từ cán bộ địa chính của xã, do mới vào làm nên không nắm được nguồn gốc đất, cứ canh theo hiện trạng sử dụng rồi lập thuyết minh. Cho rằng thửa 2851 có diện tích 892m2 mà ông nội tôi đang đứng chủ quyền không phải lập thủ tục thừa kế cho cô tôi mà tự điều chỉnh tăng diện tích đất tự nhiên cho cô tôi, và giảm diện tích đất tự nhiên cho bên gia đình tôi khi lập thủ tục thừa kế.
    Sau khi gia đình tôi phát hiện sai sót từ lỗi thuyết mih của cán bộ địa chính nên yêu cầu chỉnh sửa theo đúng thực tế, cán bộ địa chính đã thuyết minh lại theo đúng nguồn gốc đất là thửa 2851 có diện tích 892m2 của ông nội tôi chưa đo đạc lại tại xã (tức là sau khi làm thủ tục thừa kế thì thửa đất 2851 sẽ được điều chỉnh trang 4 cho giấy chứng nhận QSDĐ do ông nội tôi đứng tên), thửa 2906 có diện tích 4504m2 là 2 thửa 100 và 101 mà ba tôi và cô tôi đang lập thủ tục thừa kế theo đúng văn bản thoả thuận.
    Gia đình tôi đã giao phần đất mà cô tôi thừa kế (thửa100) để cô tôi quản lý, canh tác và sử dụng trước khi lập văn bản phân chia tại công chứng theo đúng yêu cầu của cô tôi.
    Riêng thửa 2851 có diện tích 892m2 cô tôi vẫn đang canh tác. Biết được thửa đất nầy vẫn còn do ông nội đứng tên, sợ phải phân chia tiếp cô tôi đã chủ động viết đơn gởi ra UBND xã yêu cầu phân chia lại di sản thừa kế. Lý do của cô tôi thật đơn giản là thửa đất 2851 không được kê khai trong văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế là do ba tôi cố tình che dấu, lừa dối để vụ lợi cá nhân, cô đề cập đến ngôi nhà và yêu cầu phân chia 1 nửa ngôi nhà cùng những vật dụng trong nhà. Rút lại trong đơn cô yêu cầu huỷ văn bản phân chia di sản và chia lại tổng di sản mà ông nội tôi để lại.
    UBND xã tiếp tục mời ba tôi và cô tôi ra hoà giải, buổi hoà giải diễn ra như sau:
    - Cô tôi yêu cầu ba tôi phải ký giấy chuyển cho cô tôi toàn bộ thửa đất 2851 còn lại với điều kiện cô sẽ không tranh chấp nữa.
    – Phần ba tôi không đồng ý vì thửa đất này là di sản thừa kế còn sót, nhưng theo văn bản thoả thuận cô đồng ý nhận thửa 100, thì thửa 2851 sẽ do ba tôi thừa kế toàn bộ.
    Chốt lại biên bản hoà giải: quan điển của ba tôi như sau: (Giữ nguyên văn bản phân chia di sản 2 bên tự nguyện lập tại công chứng, ngôi nhà là do ba mẹ tôi tự xây dựng va thửa đất còn lại là di sản thừa kế)
    Buổi hoà giải không thành và UBND xã đã chuyển hồ sơ lên toà án huyện.
    Luật sư vui lòng giải đáp thắc mắc dùm gia đình tôi:
    - Ngôi nhà do ba mẹ tôi tự xây dựng, hơn nữa trong văn bản thoả thuận ba tôi được thừa kế toàn bộ thửa đất (trên thửa đất đã có sẵn ngôi nhà, mà chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2000 thì làm gì có chủ quyền nhà), sau này ba tôi đã chuyển thừa kế toàn bộ thửa đất và làm luôn chủ quyền nhà?
    - Thửa đất 2851 còn lại ba tôi có được thừa kế toàn bộ không?
    - Khi ra toàn văn bản thoả thuận phân chia di sản trước đó có bị huỷ không?
    Trên đây là toàn bộ nội dung quá trình tranh chấp di sản thừa kế mà người khởi kiện trước giờ chỉ có cô tôi. Tuy dài dòng, nhưng tôi muốn trình bày thật rõ ràng, mong Luật sư vui lòng giải đáp.
    Chân thành cảm ơn!!!

    Trả lờiTrả lời tất cảDi chuyển…Thư đếnVào Thư trước | Xem Thư sau | Trở lại Thư Chọn bảng mã hóaASCII (ASCII)Hy Lạp (ISO-8859-7)Hy Lạp (Windows-1253)Latin-10 (ISO-8859-16)Latin-3 (ISO-8859-3)Latin-6 (ISO-8859-10)Latin-7 (ISO-8859-13)Latin-8 (ISO-8859-14)Latin-9 (ISO-8859-15)Tây Âu (850)Tây Âu (CP858)Tây Âu (HPROMAN8)Tây Âu (MACROMAN8)Tây Âu (Windows-1252)Armenia (ARMSCII-8)Baltic Rim (ISO-8859-4)Baltic Rim (WINDOWS-1257)Cyrillic (866)Cyrillic (ISO-8859-5)Kirin (KOI8-R)Kirin (KOI8-RU)Kirin (KOI8-T)Kirin (KOI8-U)Cyrillic (WINDOWS-1251)Latin-2 (852)Latin-2 (ISO-8859-2)La Tinh-2 (WINDOWS-1250)Thổ Nhĩ Kỳ (ISO-8859-9)Thổ Nhĩ Kỳ (WINDOWS-1254)Ả Rập (ISO-8859-6, ASMO-708)Tiếng Ả Rập (WINDOWS-1256)Do Thái (856)Do Thái (862)Tiếng Do Thái (WINDOWS-1255)Tiếng Hoa Giản thể (GB-2312-80)Tiếng Hoa Giản thể (GB18030)Tiếng Hoa Giản thể (HZ-GB-2312)Tiếng Hoa Giản thể (ISO-2022-CN)Tiếng Hoa Giản thể (WINDOWS-936)Tiếng Hoa Phồn thể-Hồng Kông (BIG5-HKSCS)Tiếng Hoa Phồn thể (BIG5)Tiếng Hoa Phồn thể (EUC-TW)Tiếng Nhật (SHIFT_JIS)Tiếng Nhật (EUC-JP)Tiếng Nhật (ISO-2022-JP)Tiếng Hàn (ISO-2022-KR)Hàn Quốc (EUC-KR)Tiếng Thái (TIS-620-2533)Tiếng Thái (WINDOWS-874)Tiếng Việt (TCVN-5712)Tiếng Việt (VISCII)Tiếng Việt (WINDOWS-1258)Unicode (UTF-7)Unicode (UTF-8)Unicode (UTF-16)Unicode (UTF-32)

  2. nong van cuong says:

    chao luat su toi xin trinh bay nhu xau nam 1990 toi vao mien nam theo dien kinh te moi sau ba nam sinh song tai thon cat an 2 xa phuoc cat 1 huyen cat tien tinh lam dong nam 1990 gia dinh toi co mua mot manh ruong de canh tac nong nghiep gia dinh toi mua lai cua ong lam khanh hung voi dien tich la 2000m vuong de canh tac nhung ba nam song tai lam dong gia dinh toi nhan thay rang van khong du de ca gia dinh canh tac nen nam 1993 gia dinh toi lai di khai thac tai binh phuoc lam lam nghiep tai gia toi da giao lai cho ong ma ich toai canh tac nhung may co hoi nhieu lan ong ma ich toai khong tra den khi gia dinh toi len xa hoi thi dc biet ong toai da lam so do vao manh dat toi vay toi phai lam sao giay to mua ban dat tu nam 1991 toi van giu hoi luat su toi phai lam sao va co lay lai dc ko

 
 

Leave a Comment